“Đăng ký website với Bộ Công Thương” là cách gọi rất phổ biến của doanh nghiệp khi muốn thực hiện thủ tục về thương mại điện tử. Hoặc cách gọi phổ biến nữa là đăng ký tích xanh, tích đỏ với Bộ Công Thương. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, cách gọi này chưa hoàn toàn chính xác bởi không phải website hay nền tảng thương mại điện tử nào cũng thực hiện thủ tục đăng ký.
Có trường hợp phải thông báo, có trường hợp phải đăng ký. Đáng chú ý, cùng là nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nhưng tùy mô hình hoạt động, chủ quản trong nước hay nước ngoài mà thủ tục, hồ sơ và cơ quan xác nhận có thể khác nhau.
Đặc biệt, Luật Thương mại điện tử năm 2025 có một trường hợp rất dễ bị bỏ sót: nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến thực hiện thủ tục đăng ký, không nên mặc định xếp chung vào nhóm thông báo. Điều này đặc biệt lưu ý và làm bạn hoang mang nhưng mình đã viết và phân tích rất kỹ ở dưới nhé.
Vậy website của bạn phải thông báo hay đăng ký? Có thể phân biệt theo từng mô hình dưới đây.

1. Trước tiên cần xác định website thuộc mô hình nào
Muốn biết phải thực hiện thủ tục gì, không nên bắt đầu bằng câu hỏi “website bán sản phẩm gì?” mà cần xác định mô hình hoạt động của nền tảng.
Xác định rõ 2 yếu tố:
Yếu tố 1: Mô hình hoạt động nền tảng?
Có thể hình dung đơn giản như sau:
- Doanh nghiệp tự bán hàng hóa, dịch vụ của mình → xem xét nhóm nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp.
- Nền tảng tạo môi trường để người bán khác tham gia bán hàng, cung cấp dịch vụ → xem xét nhóm nền tảng thương mại điện tử trung gian.
- Mạng xã hội có hoạt động thương mại điện tử → thuộc nhóm mạng xã hội có hoạt động kết hợp bán hàng như làm fanpage, livestream, cung cấp thông tin liên lạc…
- Một nền tảng tích hợp nhiều nền tảng thương mại điện tử khác để người dùng truy cập, sử dụng (trực tiếp, trung gian, mạng xã hội) → xem xét mô hình nền tảng thương mại điện tử tích hợp.
Yếu tố 2: Chủ quản nền tảng là ai?
Ngoài mô hình hoạt động, còn phải xác định thêm chủ quản là tổ chức, cá nhân trong nước hay chủ quản nước ngoài có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam.
Chỉ khi xác định đúng hai yếu tố này mới có thể xác định chính xác thủ tục là thông báo hay đăng ký.
2. Bảng phân biệt đăng ký hay thông báo website với Bộ Công Thương
Bảng dưới đây giúp doanh nghiệp hình dung nhanh các trường hợp phổ biến:
| Mô hình nền tảng | Thủ tục | Hồ sơ cơ bản | Thẩm quyền xác nhận | Quy trình vắn tắt |
| Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp trong nước có chức năng đặt hàng trực tuyến | THÔNG BÁO | Tờ khai theo mẫu; giấy phép/chứng nhận/chấp thuận đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện nếu thuộc trường hợp phải cung cấp; các thông tin, tài liệu liên quan theo quy định | UBND cấp tỉnh theo thẩm quyền; việc xử lý thực tế thông qua cơ quan chuyên môn về công thương | Chuẩn bị website và tài liệu → kê khai trực tuyến → gửi hồ sơ → cơ quan có thẩm quyền xem xét → sửa/bổ sung nếu có → xác nhận thông báo |
| Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến và có hoạt động TMĐT tại Việt Nam thuộc diện Điều 31 Nghị định 248 | ĐĂNG KÝ | Tờ khai Mẫu số 02; tài liệu về ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nếu thuộc trường hợp phải cung cấp; tài liệu chỉ định pháp nhân tại Việt Nam theo ủy quyền của chủ quản nền tảng nước ngoài | Bộ Công Thương | Xác định thuộc diện phải đăng ký → chỉ định pháp nhân tại Việt Nam → chuẩn bị hồ sơ → đăng ký → Bộ Công Thương xem xét → xác nhận |
| Nền tảng TMĐT trung gian trong nước | ĐĂNG KÝ | Tờ khai Mẫu số 02; tài liệu về ngành nghề có điều kiện nếu có; Đề án hoạt động TMĐT theo Mẫu số 05; Quy chế livestream nếu có; mẫu hợp đồng/thỏa thuận giữa người bán và chủ quản nền tảng | Bộ Công Thương | Chuẩn bị điều kiện vận hành → lập hồ sơ → đăng ký trực tuyến → thẩm định → bổ sung nếu cần → xác nhận đăng ký |
| Nền tảng TMĐT trung gian nước ngoài có hoạt động TMĐT tại Việt Nam thuộc diện Điều 32 NĐ 248 | ĐĂNG KÝ | Tờ khai Mẫu số 02; các tài liệu theo Điều 35 và Điều 27 NĐ 248; văn bản ủy quyền; trường hợp thuộc diện ký quỹ phải có tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện ký quỹ | Bộ Công Thương | Xác định điều kiện → chỉ định/ủy quyền đại diện tại Việt Nam → ký quỹ nếu thuộc trường hợp phải thực hiện → nộp hồ sơ → thẩm định → xác nhận |
| Mạng xã hội hoạt động TMĐT trong nước | ĐĂNG KÝ | Hồ sơ theo Điều 27 Nghị định 248, tương ứng với mô hình và chức năng của nền tảng | Bộ Công Thương | Chuẩn bị hồ sơ → kê khai → gửi trực tuyến → thẩm định → hoàn thiện → xác nhận |
| Mạng xã hội hoạt động TMĐT nước ngoài thuộc diện Điều 32 NĐ 248 | ĐĂNG KÝ | Hồ sơ theo Điều 35 Nghị định 248, phân biệt trường hợp có hoặc không có chức năng đặt hàng trực tuyến | Bộ Công Thương | Xác định mô hình → đáp ứng điều kiện → ủy quyền đại diện → ký quỹ nếu thuộc diện áp dụng → đăng ký → xác nhận |
| Nền tảng TMĐT tích hợp trong nước | ĐĂNG KÝ | Tờ khai; tài liệu ngành nghề có điều kiện nếu có; Đề án hoạt động TMĐT; tài liệu khác tương ứng theo Điều 27 Nghị định 248 | Bộ Công Thương | Đáp ứng điều kiện vận hành → chuẩn bị hồ sơ → đăng ký → thẩm định → xác nhận |
| Nền tảng TMĐT tích hợp nước ngoài có hoạt động TMĐT tại Việt Nam thuộc diện Điều 32 NĐ 248 | ĐĂNG KÝ | Tờ khai Mẫu số 02; các tài liệu theo Điều 35; văn bản ủy quyền pháp nhân tại Việt Nam; tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện ký quỹ và các tài liệu liên quan | Bộ Công Thương | Đáp ứng điều kiện → chỉ định pháp nhân tại Việt Nam → ký quỹ → chuẩn bị hồ sơ → đăng ký → Bộ Công Thương xác nhận |
3. Trường hợp phổ biến nhất: website bán hàng của chính doanh nghiệp
Đây là trường hợp thường gặp nhất trên thực tế.
Ví dụ Công ty A sản xuất mỹ phẩm và lập website để giới thiệu, bán chính sản phẩm của Công ty A. Khách hàng có thể lựa chọn sản phẩm, thêm vào giỏ hàng, nhập thông tin nhận hàng và đặt hàng trực tuyến.
Nếu đáp ứng các dấu hiệu pháp lý của nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến, về nguyên tắc chủ quản phải thực hiện thủ tục thông báo theo quy định.
Điểm quan trọng ở đây là:
Doanh nghiệp bán hàng của chính mình ≠ sàn thương mại điện tử.
Việc website có nhiều sản phẩm, có giỏ hàng, thanh toán trực tuyến hay có hàng nghìn đơn hàng cũng không tự động biến website đó thành nền tảng trung gian.
Cần xem ai là người bán và bản chất quan hệ giao dịch trên nền tảng.
4. Một ngoại lệ rất dễ nhầm: kinh doanh trực tiếp nhưng có chức năng đặt hàng trực tuyến
Đây là điểm đặc biệt cần lưu ý khi đọc Luật Thương mại điện tử năm 2025.
Thông thường, khi nghe đến:
“nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp” –>người đọc rất dễ mặc định rằng thủ tục phải thực hiện là thông báo.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều như vậy.
Theo khoản 6 Điều 27 Luật Thương mại điện tử, đối với trường hợp nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến do chủ quản nước ngoài xây dựng và có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam, pháp luật sử dụng cơ chế đăng ký.
Đây là điểm rất dễ bị bỏ qua nếu chỉ phân loại đơn giản:
- Kinh doanh trực tiếp = thông báo
- Trung gian = đăng ký.
Cách hiểu đó chưa đầy đủ.
Có thể nhớ theo nguyên tắc:
- Kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến (chỉ có yếu tố trong nước) → thông thường là THÔNG BÁO.
nhưng:
- Kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến thuộc khoản 6 Điều 27 Luật TMĐT (có chủ thể là nước ngoài) → ĐĂNG KÝ.
Và khi chuyển sang cơ chế đăng ký, thẩm quyền xác nhận cũng không còn giống thủ tục thông báo thông thường. Cơ quan xác nhận là Bộ Công Thương.
Đây là một chi tiết nhỏ về câu chữ nhưng có thể làm thay đổi toàn bộ cách doanh nghiệp chuẩn bị và thực hiện thủ tục.
5. Nền tảng trung gian thì thông báo hay đăng ký?
Đăng ký.
Nền tảng thương mại điện tử trung gian về bản chất tạo môi trường để các chủ thể khác tham gia hoạt động thương mại điện tử.
Do đó, hồ sơ cũng phức tạp hơn đáng kể so với thủ tục thông báo của website kinh doanh trực tiếp thông thường.
Theo Điều 27 Nghị định 248/2026/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký có các tài liệu quan trọng như:
- Tờ khai thông tin theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II;
- Tài liệu về giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc chấp thuận đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nếu thuộc trường hợp phải cung cấp;
- Đề án hoạt động thương mại điện tử theo Điều 30, lập theo Mẫu số 05;
- Quy chế hoạt động livestream bán hàng nếu nền tảng có hoạt động livestream bán hàng;
- Mẫu hợp đồng, thỏa thuận giữa người bán với chủ quản nền tảng.
Do đó, nếu một website cho phép nhiều người bán độc lập tham gia bán hàng, doanh nghiệp không nên lấy bộ hồ sơ của website bán hàng thông thường để thực hiện.
6. Nền tảng thương mại điện tử tích hợp phải làm thủ tục gì?
Đối với nền tảng thương mại điện tử tích hợp, thủ tục là đăng ký.
Đây cũng là nhóm cần phân biệt với website kinh doanh trực tiếp và nền tảng trung gian thông thường.
Chủ quản không chỉ phải chuẩn bị hồ sơ đăng ký mà còn phải đáp ứng những yêu cầu riêng liên quan đến hoạt động tích hợp, quan hệ giữa nền tảng tích hợp và nền tảng được tích hợp, dữ liệu, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như các trách nhiệm khác theo Luật Thương mại điện tử và Nghị định 248.
Thẩm quyền xác nhận đăng ký đối với nền tảng trong nước thuộc Bộ Công Thương.
7. Website nước ngoài bán hàng vào Việt Nam có phải đăng ký không?
Có thể có.
Đây là điểm khác rất lớn so với cách tiếp cận “website ở nước ngoài thì không cần làm thủ tục tại Việt Nam”.
Điều 31 Nghị định 248/2026/NĐ-CP quy định nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam phải đăng ký với Bộ Công Thương khi thuộc một trong các trường hợp luật định.
Một trường hợp là nền tảng:
- Có cơ chế cho phép lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.
Trong trường hợp này, chủ quản phải được xác nhận đăng ký trước khi vận hành nền tảng tại Việt Nam.
Trường hợp thứ hai là nền tảng đạt:
- Từ 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam trở lên trong 01 năm tính từ ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch.
Khi đạt ngưỡng này, chủ quản phải thực hiện đăng ký trong vòng 60 ngày kể từ thời điểm đạt ngưỡng.
Như vậy:
Nền tảng kinh doanh trực tiếp trong nước có chức năng đặt hàng trực tuyến → thông thường THÔNG BÁO.
nhưng:
Nền tảng kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến thuộc Điều 31 → ĐĂNG KÝ với Bộ Công Thương.
Đây là khác biệt rất quan trọng.
8. Hồ sơ đăng ký nền tảng kinh doanh trực tiếp nước ngoài có phức tạp không?
Điều 33 Nghị định 248 quy định khá rõ hồ sơ.
Có thể hiểu đơn giản gồm 04 nhóm tài liệu chính:
- Thứ nhất, Tờ khai thông tin theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II Nghị định 248.
- Thứ hai, tài liệu chứng minh điều kiện kinh doanh, nếu nền tảng kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Trường hợp những giấy tờ này đã có dữ liệu điện tử bảo đảm giá trị pháp lý và có thể được khai thác thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống theo quy định thì không phải cung cấp lại.
- Thứ ba, tài liệu chỉ định pháp nhân tại Việt Nam theo ủy quyền của chủ quản nền tảng thương mại điện tử nước ngoài. Điểm thứ ba đặc biệt quan trọng bởi đây chính là một trong những khác biệt rõ rệt giữa hồ sơ của chủ quản trong nước và chủ quản nước ngoài.
- Thứ tư là phải có Báo cáo đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới.
Thẩm quyền xác nhận đăng ký đối với trường hợp này thuộc Bộ Công Thương.
9. Nền tảng trung gian nước ngoài thì sao?
Đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian nước ngoài, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử nước ngoài và nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam, cần xem xét Điều 32, Điều 34 và Điều 35 Nghị định 248.
Một điểm quan trọng là phải phân biệt:
có chức năng đặt hàng trực tuyến
và
không có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện quản lý, vận hành, chủ thể được ủy quyền tại Việt Nam và nghĩa vụ ký quỹ.
Đối với nền tảng trung gian nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến và nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài thuộc phạm vi quy định, Nghị định đặt ra điều kiện ký quỹ không thấp hơn 20 tỷ đồng Việt Nam tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Khoản tiền ký quỹ phải được duy trì trong suốt thời gian nền tảng hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đây là khác biệt rất lớn so với thủ tục đăng ký nền tảng trung gian trong nước.
10. Vì sao rất nhiều người nhầm giữa “thông báo” và “đăng ký website”?
- Nguyên nhân đầu tiên là trong thực tế, người dùng thường gọi chung tất cả các thủ tục này là: “đăng ký website với Bộ Công Thương”.
Đây là cách gọi thông dụng khi tìm kiếm trên Google nhưng không phản ánh đầy đủ cách phân loại của pháp luật.
- Nguyên nhân thứ hai là việc phân loại theo Luật Thương mại điện tử năm 2025 chi tiết hơn. Không thể chỉ nhìn thấy website có nút “Mua hàng” rồi kết luận phải thông báo, cũng không thể cứ thấy nhiều sản phẩm là cho rằng đó là sàn thương mại điện tử.
Đặc biệt, trường hợp nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến tại khoản 6 Điều 27 Luật Thương mại điện tử cho thấy quy tắc “kinh doanh trực tiếp = thông báo” có ngoại lệ cần đặc biệt chú ý.
- Nguyên nhân thứ ba là yếu tố nước ngoài.
Cùng là nền tảng kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến nhưng: chủ quản trong nước và chủ quản nước ngoài có hoạt động TMĐT tại Việt Nam có thể phải thực hiện hai cơ chế khác nhau.
Vì vậy, việc xác định đúng mô hình trước khi chuẩn bị hồ sơ quan trọng hơn rất nhiều so với việc bắt đầu ngay bằng thao tác tạo tài khoản và kê khai.
Trên đây là những tổng hợp chia sẻ hiểu biết của mình về Đăng ký website với Bộ Công Thương là thông báo hay đăng ký? Hi vọng sẽ giúp bạn được phần nào sự phân biết được giữa các thủ tục, thẩm quyền xử lý của các cơ quan nhà nước. Nếu các bạn có bất kỳ câu hỏi hay cần làm rõ hoặc tư vấn dịch vụ hỗ trợ thì liên hệ mình ngay nhé. Cám ơn các bạn.

