Tại sao không phải website bán hàng nào cũng phải thông báo với cơ quan quản lý?
Khi doanh nghiệp thiết kế một website để giới thiệu và bán sản phẩm, câu hỏi thường được đặt ra là Website có bán hàng thì có phải thông báo với cơ quan quản lý về thương mại điện tử không?
Theo quy định mới của Luật Thương mại điện tử 2025, câu trả lời là: Không phải cứ website có giới thiệu hoặc bán hàng hóa, dịch vụ là mặc nhiên phải thực hiện thủ tục thông báo.
Điểm quan trọng hiện nay là phải xác định website có phải nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không.
Sự khác biệt nằm ở cụm từ “chức năng đặt hàng trực tuyến”.
Đây cũng là điểm mà doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi áp dụng quy định mới từ năm 2026.

1. Quy định mới nói gì về đối tượng phải thông báo?
Khoản 1 Điều 14 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến thực hiện thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi vận hành nền tảng, trừ trường hợp nền tảng thương mại điện tử nước ngoài thuộc khoản 3 Điều này.
Muốn biết một website có thuộc trường hợp này hay không, trước hết phải hiểu hai khái niệm được quy định ngay tại Điều 3 của Luật:
- Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp là nền tảng thương mại điện tử do tổ chức, cá nhân thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.
- Còn chức năng đặt hàng trực tuyến là chức năng của nền tảng thương mại điện tử cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng đó.
Như vậy, có thể hình dung điều kiện cơ bản như sau:
Doanh nghiệp trực tiếp bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ + Nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến là thuộc đối tượng thực hiện thông báo.
Do đó, không nên chỉ nhìn thấy trên website có sản phẩm, giá bán hoặc chữ “mua hàng” rồi lập tức kết luận website thuộc đối tượng phải thông báo.
2. Website chỉ giới thiệu sản phẩm có phải thông báo không?
Đây là trường hợp rất phổ biến.
Ví dụ Công ty A có website abc.com.vn. Trên website có:
- Thông tin giới thiệu doanh nghiệp;
- Hình ảnh sản phẩm;
- Thông số kỹ thuật;
- Giá tham khảo;
- Địa chỉ cửa hàng;
- Số điện thoại;
- Email;
- Nút “Liên hệ tư vấn”.
Khách hàng muốn mua sản phẩm phải gọi điện thoại hoặc đến trực tiếp cửa hàng.
Website không có quy trình cho phép khách hàng thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên chính nền tảng.
Trong trường hợp này vẫn phải là nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến.
3. Website có giá sản phẩm cũng chưa chắc phải thông báo
Một nhầm lẫn khác là: Website đã công khai giá thì chắc chắn là website bán hàng và phải thông báo.
Không nên xác định như vậy. Ví dụ website hiển thị:
- Máy lọc nước ABC
- Giá: 8.500.000 đồng
- Thông số kỹ thuật…
- ☎ Liên hệ mua hàng: 09xx.xxx.xxx
Việc công khai giá hàng hóa chưa tự nó chứng minh rằng website có chức năng đặt hàng trực tuyến theo Luật Thương mại điện tử.
Câu hỏi quan trọng hơn phải là: Khách hàng có thể thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng hay không?
Bởi khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại điện tử định nghĩa chức năng đặt hàng trực tuyến dựa trên khả năng thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng.
Do đó, trường hợp này vẫn phải là nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến.
4. Website có nút “Liên hệ” hoặc “Gọi ngay” thì sao?
Cũng chưa thể chỉ dựa vào đó để kết luận thuộc trường hợp phải thông báo.
Ví dụ:
- Sản phẩm A
- Giá: 500.000 đồng
- ☎ Gọi ngay
- Hoặc Liên hệ tư vấn
Khách hàng bấm vào nút để gọi cho nhân viên bán hàng, sau đó hai bên tiếp tục trao đổi ngoài website.
Điều này khác với một website cho phép khách hàng thực hiện quy trình đặt hàng trực tuyến ngay trên nền tảng.
Vì vậy, khi rà soát website, doanh nghiệp phải làm rõ Website của tôi có chức năng đặt hàng trực tuyến theo quy định của Luật hay không?
5. Trường hợp nào website thể hiện rõ chức năng đặt hàng trực tuyến?
Ví dụ thứ hai sẽ dễ hình dung hơn. Khách hàng truy cập website và thực hiện:
Chọn sản phẩm → Thêm vào giỏ hàng → Chọn số lượng → Nhập thông tin người nhận → Chọn phương thức giao hàng → Chọn phương thức thanh toán → Xác nhận đặt hàng
Đây là trường hợp cần đặc biệt lưu ý đến khái niệm chức năng đặt hàng trực tuyến.
Luật Thương mại điện tử 2025 cũng quy định khá chi tiết đối với nền tảng có chức năng này. Trước khi đặt hàng, nền tảng phải hiển thị rõ ràng, đầy đủ và chính xác các nội dung của thỏa thuận giao kết hợp đồng, đồng thời có cơ chế cho phép người mua thể hiện sự đồng ý với các nội dung theo Điều 12.
Vì vậy bán hàng trực tiếp + có chức năng đặt hàng trực tuyến là hai yếu tố rất quan trọng để xác định trường hợp thông báo theo khoản 1 Điều 14.
6. Không có giỏ hàng thì chắc chắn không phải thông báo?
Không nên kết luận như vậy.
Đây là điểm doanh nghiệp rất dễ hiểu sai nếu chỉ nhìn vào hình thức kỹ thuật của website. Luật không định nghĩa chức năng đặt hàng trực tuyến là Website phải có giỏ hàng.
Luật xác định đây là chức năng cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng. Do đó, giỏ hàng chỉ là một cách thiết kế rất phổ biến.
Một website hoàn toàn có thể không sử dụng biểu tượng 🛒 quen thuộc nhưng vẫn thiết kế một quy trình khác cho phép người mua lựa chọn hàng hóa/dịch vụ, xác nhận các thông tin giao dịch và thực hiện giao kết hợp đồng điện tử.
Ví dụ:
Chọn gói dịch vụ → Điền thông tin khách hàng → Chọn thời hạn sử dụng → Xác nhận điều kiện dịch vụ → Đặt dịch vụ.
Website không hề có giỏ hàng, nhưng vẫn cần xem xét bản chất của quy trình giao dịch.
Vì vậy, không có giỏ hàng nhưng vẫn có khả năng có chức năng đặt hàng trực tuyến.
7. Website bán dịch vụ thì sao?
Khái niệm nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp không chỉ áp dụng đối với bán hàng hóa. Khoản 3 Điều 3 Luật Thương mại điện tử 2025 xác định nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp là nền tảng do tổ chức, cá nhân thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.
Do đó, website cung cấp:
- Khóa học;
- Dịch vụ tư vấn;
- Dịch vụ thiết kế;
- Dịch vụ phần mềm;
- Dịch vụ đặt lịch;
- Các dịch vụ trực tuyến khác…
Cũng không nên mặc nhiên cho rằng: Tôi không bán hàng hóa nên không liên quan. Vẫn phải xem website có phải nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp và có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không.
8. Bảng phân biệt nhanh
Có thể sử dụng bảng dưới đây để hình dung:
| Website đang có gì? | Có thể kết luận phải thông báo ngay? |
| Chỉ giới thiệu doanh nghiệp | Không |
| Có hình ảnh, mô tả sản phẩm | Không |
| Có công khai giá | Chưa đủ căn cứ |
| Có nút “Liên hệ”, “Gọi ngay” | Chưa đủ căn cứ |
| Có form yêu cầu tư vấn | Cần xem chức năng thực tế |
| Có giỏ hàng và quy trình đặt hàng | Cần xem xét chức năng đặt hàng trực tuyến |
| Không có giỏ hàng nhưng cho phép giao kết hợp đồng điện tử trên website | Vẫn có thể có chức năng đặt hàng trực tuyến |
| Chủ quản trực tiếp bán hàng/cung ứng dịch vụ và có chức năng đặt hàng trực tuyến | Thuộc trường hợp thông báo |
Điểm quan trọng nhất là không xác định nghĩa vụ chỉ dựa vào tên gọi hoặc một nút chức năng đơn lẻ.
9. Đừng nhầm “không phải thông báo” với “không phải tuân thủ pháp luật thương mại điện tử”
Đây là điểm rất quan trọng. Một website không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục thông báo theo khoản 1 Điều 14 không đồng nghĩa với việc website đó nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật thương mại điện tử.
Luật Thương mại điện tử 2025 quy định trách nhiệm đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử, trong đó có các yêu cầu về công khai thông tin, xử lý phản ánh, khiếu nại, rà soát và xử lý hành vi vi phạm pháp luật cũng như các trách nhiệm khác tùy thuộc mô hình và chức năng của nền tảng.
Vì vậy cần tách biệt hai câu hỏi:
- Câu hỏi 1: Website có thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục thông báo hay không?
- Câu hỏi 2: Website phải tuân thủ những trách nhiệm pháp lý nào trong quá trình hoạt động?
Hai vấn đề này không hoàn toàn giống nhau.
Kết luận
Theo quy định mới, câu hỏi “Website bán hàng có phải thông báo với Bộ Công Thương không?” Đã không còn là cách đặt vấn đề thật sự chính xác.
Doanh nghiệp nên hỏi: “Website của tôi có phải là nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không?”
Nếu website chỉ giới thiệu doanh nghiệp, giới thiệu sản phẩm, công khai giá, cung cấp số điện thoại hoặc thông tin để khách hàng liên hệ mà không có chức năng cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng, thì không nên chỉ dựa vào việc website có bán hàng để kết luận thuộc trường hợp thông báo theo khoản 1 Điều 14.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và website có chức năng đặt hàng trực tuyến, thì chủ quản thuộc trường hợp thực hiện thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi vận hành nền tảng theo Luật Thương mại điện tử 2025.
Và quan trọng hơn, nếu website cho người khác đăng ký tài khoản để bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thì đừng tiếp tục xác định theo hướng website bán hàng có phải thông báo không, bởi lúc này cần xem xét mô hình nền tảng thương mại điện tử trung gian và thủ tục đăng ký.
Bài viết trên đã giải thích website có đặt hàng trực tuyến thì phải thông báo đến Bộ Công Thương. Website không có chức năng đặt hàng trực tuyến thì không phải thông báo đến Bộ Công Thương nhưng vẫn phải niêm yết công khai chủ sở hữu website, chính sách giá, vận chuyển, bảo mật thông tin. Cần hỗ trợ tư vấn, làm rõ website của bạn thuộc đối tượng nào thì liên hệ mình ngay nhé. Cám ơn các bạn đã theo dõi bài viết mình.

