Mục lục nội dung
Thương mại điện tử xuyên biên giới đang giúp các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận người tiêu dùng Việt Nam mà không nhất thiết phải mở cửa hàng hoặc văn phòng kinh doanh theo mô hình truyền thống. Tuy nhiên, việc nền tảng được vận hành từ nước ngoài không đồng nghĩa với việc chủ quản nền tảng được miễn các nghĩa vụ pháp lý tại Việt Nam.
Từ ngày 1/7/2026, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực. Khung pháp lý mới quy định cụ thể hơn về tiêu chí xác định nền tảng thương mại điện tử nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam, thủ tục đăng ký, yêu cầu về đại diện tại Việt Nam, trách nhiệm quản lý người bán và các điều kiện vận hành tương ứng với từng mô hình nền tảng.
Bài viết dưới đây phân tích 10 điều nền tảng thương mại điện tử nước ngoài cần biết khi hoạt động tại Việt Nam, qua đó giúp doanh nghiệp xác định mình có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không và cần thực hiện những thủ tục nào với Bộ Công Thương.
1. Không phải mọi website nước ngoài đều được coi là nền tảng thương mại điện tử hoạt động tại Việt Nam
Không phải cứ website nước ngoài có người Việt Nam truy cập là đương nhiên phải đăng ký hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam.
Theo Nghị định số 248/2026/NĐ-CP, nền tảng thương mại điện tử nước ngoài thuộc diện phải đăng ký với Bộ Công Thương khi có chức năng đặt hàng trực tuyến và đáp ứng một trong các trường hợp sau:
- Có cơ chế cho phép người dùng lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt trên nền tảng;
- Sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”;
- Đạt từ 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam trở lên trong một năm, tính kể từ ngày 1/1 của năm dương lịch.
Đối với trường hợp nền tảng có giao diện tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền “.vn”, chủ quản nền tảng phải được xác nhận đăng ký trước khi vận hành tại Việt Nam. Nếu nền tảng đạt ngưỡng 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam trong một năm, chủ quản phải thực hiện đăng ký trong vòng 60 ngày kể từ thời điểm đạt ngưỡng.
Website nước ngoài không có chức năng đặt hàng trực tuyến có phải đăng ký không?
Cần phân biệt giữa website giới thiệu thông tin và nền tảng có chức năng giao dịch trực tuyến.
Ví dụ, một doanh nghiệp nước ngoài có website bằng tiếng Việt, giới thiệu sản phẩm, giá bán và thông tin liên hệ nhưng không cho phép người dùng đặt hàng trực tiếp trên website thì website đó không thuộc trường hợp “nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến” được quy định tại Điều 31 Nghị định số 248/2026/NĐ-CP.
Tuy nhiên, không nên từ đó kết luận rằng website hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Tùy nội dung và phương thức hoạt động, doanh nghiệp vẫn có thể phải tuân thủ quy định về quảng cáo, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thuế, sở hữu trí tuệ và pháp luật chuyên ngành có liên quan.
2. Phải xác định đúng mô hình nền tảng trước khi thực hiện thủ tục
Nghĩa vụ của nền tảng nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào mô hình hoạt động thực tế. Theo quy định mới, có thể phân biệt một số nhóm chính:
- Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến;
- Nền tảng thương mại điện tử trung gian;
- Mạng xã hội có hoạt động thương mại điện tử;
- Nền tảng thương mại điện tử tích hợp;
- Nền tảng có hoặc không có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Việc phân loại không chỉ dựa vào tên gọi mà phải căn cứ vào chức năng thực tế của nền tảng.
Chẳng hạn, một website tự bán hàng hóa của chính chủ quản sẽ có bản chất khác với một nền tảng cho phép nhiều người bán mở gian hàng. Tương tự, một mạng xã hội chỉ hỗ trợ quảng bá sản phẩm sẽ khác với mạng xã hội tích hợp chức năng đặt hàng, thanh toán hoặc quản lý giao dịch.
Nếu xác định sai mô hình, doanh nghiệp có thể chuẩn bị sai hồ sơ, lựa chọn sai thủ tục hoặc không đáp ứng đầy đủ điều kiện vận hành.
3. Nền tảng nước ngoài có thể phải có đại diện hoặc pháp nhân được chỉ định tại Việt Nam
Một trong những nội dung quan trọng của quy định mới là yêu cầu chủ quản nền tảng nước ngoài phải thiết lập đầu mối chịu trách nhiệm tại Việt Nam.
Đối với nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến, hồ sơ đăng ký phải có tài liệu chỉ định một pháp nhân tại Việt Nam theo ủy quyền của chủ quản nền tảng.
Đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian hoặc mạng xã hội có hoạt động thương mại điện tử nhưng không có chức năng đặt hàng trực tuyến, đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam có thể là: Phải có tài liệu chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam.
Đối với nền tảng trung gian, mạng xã hội thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến hoặc nền tảng thương mại điện tử tích hợp: Phải có tài liệu thành lập pháp nhân tại Việt Nam.
Quy định này đã quy định rõ nền tảng nào phải chỉ định, nền tảng nào phải thành lập pháp nhân nhằm tạo một đầu mối rõ ràng để cơ quan quản lý, người tiêu dùng và các bên liên quan có thể liên hệ khi cần cung cấp thông tin, giải quyết khiếu nại hoặc xử lý vi phạm.
4. Nền tảng thương mại điện tử nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký
Một điểm cần lưu ý là nền tảng thương mại điện tử nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh thực hiện thủ tục đăng ký, không phải thủ tục thông báo như website bán hàng thông thường do doanh nghiệp trong nước tự thiết lập.
Theo Nghị định số 248/2026/NĐ-CP:
- Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến phải đăng ký với Bộ Công Thương;
- Nền tảng thương mại điện tử trung gian nước ngoài phải đăng ký;
- Mạng xã hội nước ngoài có hoạt động thương mại điện tử phải đăng ký;
- Nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài phải đăng ký nếu thuộc trường hợp có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam.
Nghị định sử dụng Mẫu số 02 tại Phụ lục II làm tờ khai đăng ký đối với nền tảng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài.
Do đó, trước khi nộp hồ sơ, chủ quản nền tảng cần rà soát chính xác loại hình hoạt động, chức năng đặt hàng và cơ chế tham gia của người bán trên nền tảng.
5. Có giao diện tiếng Việt hoặc tên miền “.vn” thì phải đăng ký trước khi vận hành
Đối với nền tảng có cơ chế lựa chọn tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”, việc đăng ký không phải là nghĩa vụ thực hiện sau khi nền tảng đã hoạt động ổn định.
Chủ quản nền tảng phải hoàn thành thủ tục và được xác nhận đăng ký trước khi vận hành nền tảng tại Việt Nam.
Quy định này áp dụng đối với cả:
- Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến;
- Nền tảng thương mại điện tử trung gian nước ngoài;
- Mạng xã hội nước ngoài có hoạt động thương mại điện tử;
- Nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài.
Vì vậy, doanh nghiệp nước ngoài dự kiến bổ sung giao diện tiếng Việt hoặc chuyển sang tên miền “.vn” cần xem xét nghĩa vụ đăng ký ngay trong giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật, thay vì đợi đến khi nền tảng đã chính thức cung cấp dịch vụ.
6. Đạt 100.000 giao dịch với người mua Việt Nam phải đăng ký trong 60 ngày
Nền tảng không có giao diện tiếng Việt và không sử dụng tên miền “.vn” vẫn có thể thuộc diện phải đăng ký nếu đạt ngưỡng giao dịch theo quy định.
Ngưỡng này được xác định là từ 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam trở lên trong một năm, tính từ ngày 1/1 của năm dương lịch.
Khi đạt ngưỡng, chủ quản nền tảng phải đăng ký trong vòng 60 ngày kể từ thời điểm đạt ngưỡng.
Số lượt giao dịch có thể được xác định dựa trên:
- Dữ liệu do chủ quản nền tảng tự công bố; hoặc
- Dữ liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.
Điều đó có nghĩa là một nền tảng dù chỉ sử dụng tiếng nước ngoài, đặt máy chủ ngoài Việt Nam và không dùng tên miền “.vn” vẫn có thể phải đăng ký nếu số lượng giao dịch với người mua Việt Nam đạt mức luật định.
7. Phải công khai đầy đủ thông tin và điều kiện giao dịch trên nền tảng
Nền tảng thương mại điện tử cần công khai rõ ràng thông tin về chủ quản và các điều kiện áp dụng cho người dùng.
Tùy mô hình hoạt động, nội dung công khai có thể bao gồm:
- Tên, địa chỉ và thông tin liên hệ của chủ quản nền tảng;
- Thông tin của pháp nhân hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam;
- Quy chế hoạt động;
- Quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và chủ quản nền tảng;
- Điều kiện giao dịch;
- Cơ chế thanh toán, giao nhận và hoàn tiền;
- Chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân;
- Quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại;
- Cơ chế xử lý hàng hóa, dịch vụ hoặc tài khoản vi phạm.
Thông tin cần được bố trí ở vị trí dễ truy cập, trình bày rõ ràng và không gây nhầm lẫn. Với nền tảng hướng trực tiếp đến người tiêu dùng Việt Nam, việc sử dụng tiếng Việt rõ ràng, dễ hiểu giúp nền tảng đáp ứng tốt hơn yêu cầu minh bạch thông tin và bảo vệ người tiêu dùng.
Bộ Công Thương cũng nhấn mạnh rằng nền tảng có trách nhiệm quản lý thông tin người bán, công khai quy chế hoạt động, tiếp nhận phản ánh, lưu giữ thông tin cần thiết và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xử lý vi phạm. (moit.gov.vn)
8. Phải xác thực danh tính người bán và người livestream bán hàng
Luật Thương mại điện tử mới tăng cường trách nhiệm của chủ quản nền tảng trong việc xác thực người bán và người livestream bán hàng trước khi cho phép họ hoạt động.
Mục tiêu của quy định là:
- Hạn chế tài khoản giả hoặc tài khoản không xác định được chủ thể;
- Hỗ trợ truy xuất người bán khi có vi phạm;
- Tăng khả năng xử lý hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc;
- Bảo vệ quyền lợi của người mua;
- Hỗ trợ công tác quản lý thuế và quản lý thị trường.
Đối với người bán và người livestream là người nước ngoài, nền tảng cần thực hiện việc xác thực dựa trên giấy tờ hợp pháp theo quy định, đồng thời bảo đảm các thông tin được thu thập, lưu giữ và sử dụng đúng mục đích.
Nội dung livestream cũng phải trung thực, không gây nhầm lẫn về công dụng, chất lượng, nguồn gốc, giá bán, bảo hành hoặc khả năng cung ứng của hàng hóa, dịch vụ. (moit.gov.vn)
Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: “Hướng dẫn xác thực điện tử người bán trên sàn thương mại điện tử từ năm 2027” để tìm hiểu cụ thể hơn về quy trình thực hiện.
9. Nền tảng phải quản lý dữ liệu và phối hợp với cơ quan nhà nước
Nền tảng thương mại điện tử nước ngoài cần xây dựng hệ thống dữ liệu đủ khả năng phục vụ quản lý giao dịch, giải quyết tranh chấp và thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam.
Dữ liệu cần bảo đảm một số yêu cầu cơ bản:
- Thông tin người bán và giao dịch phải chính xác;
- Có khả năng truy xuất khi phát sinh khiếu nại hoặc vi phạm;
- Có cơ chế lưu giữ thông tin theo thời hạn luật định;
- Có khả năng cung cấp thông tin theo yêu cầu hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền;
- Có biện pháp kiểm soát việc truy cập và sử dụng dữ liệu;
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân của người mua, người bán và người livestream.
Chủ quản nền tảng cũng cần thường xuyên theo dõi các yêu cầu được gửi qua Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử. Trường hợp quá 30 ngày kể từ thời điểm cơ quan quản lý gửi yêu cầu phục vụ công tác quản lý, giám sát mà nền tảng không phản hồi, cơ quan có thẩm quyền có thể chấm dứt đăng ký theo quy định của Nghị định số 248/2026/NĐ-CP.
10. Nền tảng nước ngoài phải thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ pháp lý liên quan
Đăng ký hoạt động thương mại điện tử với Bộ Công Thương không thay thế các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.
Tùy mô hình và phạm vi hoạt động, doanh nghiệp còn phải rà soát các quy định về:
- Quản lý thuế đối với nhà cung cấp nước ngoài;
- Kê khai và nộp thuế;
- Hóa đơn, chứng từ;
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân;
- Quảng cáo;
- Sở hữu trí tuệ;
- Chất lượng và nguồn gốc hàng hóa;
- Quản lý hàng hóa kinh doanh có điều kiện;
- Thanh toán và phòng, chống rửa tiền.
Việc không tuân thủ có thể dẫn đến yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm, chấm dứt đăng ký hoặc áp dụng các biện pháp khác theo quy định. Ngoài thiệt hại pháp lý, vi phạm còn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu và khả năng mở rộng thị trường tại Việt Nam.
Nền tảng đang hoạt động cần chuẩn bị gì trong giai đoạn chuyển tiếp?
Luật Thương mại điện tử và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Các nền tảng đã hoạt động trước thời điểm này cần rà soát quy định chuyển tiếp áp dụng đối với hồ sơ và nội dung đã được xác nhận trước đây. (Văn Bản Chính Phủ)
Trong thời gian chuyển tiếp, chủ quản nền tảng nên chủ động thực hiện các công việc sau:
- Xác định lại đúng loại hình nền tảng;
- Kiểm tra nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không;
- Thống kê số lượng giao dịch với người mua tại Việt Nam;
- Rà soát giao diện tiếng Việt và tên miền đang sử dụng;
- Lựa chọn đại diện hoặc pháp nhân được ủy quyền tại Việt Nam;
- Hoàn thiện quy chế hoạt động và các nội dung công khai;
- Chuẩn bị hồ sơ đăng ký theo Nghị định số 248/2026/NĐ-CP;
- Xây dựng phương án xác thực người bán và người livestream;
- Rà soát hệ thống quản lý, lưu trữ và cung cấp dữ liệu;
- Kiểm tra nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ pháp lý có liên quan.
Việc chuẩn bị sớm giúp doanh nghiệp tránh tình trạng phải đồng thời sửa đổi hệ thống kỹ thuật, hồ sơ pháp lý và mô hình vận hành khi thời hạn chuyển tiếp sắp kết thúc.
Câu hỏi thường gặp về nền tảng thương mại điện tử nước ngoài
Nền tảng thương mại điện tử nước ngoài là gì?
Có thể hiểu đây là nền tảng do tổ chức nước ngoài quản lý, vận hành và có hoạt động thương mại điện tử hướng đến thị trường Việt Nam.
Tuy nhiên, để xác định nền tảng có thuộc diện phải đăng ký hay không, cần xem xét loại hình nền tảng, chức năng đặt hàng trực tuyến, ngôn ngữ hiển thị, tên miền và số lượng giao dịch với người mua tại Việt Nam.
Nền tảng không có văn phòng tại Việt Nam có phải đăng ký không?
Có thể có.
Việc nền tảng không đặt văn phòng hoặc máy chủ tại Việt Nam không phải là căn cứ duy nhất để loại trừ nghĩa vụ đăng ký. Nếu nền tảng có giao diện tiếng Việt, sử dụng tên miền “.vn” hoặc đạt từ 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam trong một năm thì vẫn có thể thuộc diện phải đăng ký.
Có giao diện tiếng Việt nhưng không có chức năng đặt hàng trực tuyến thì có phải đăng ký không?
Cần xem xét mô hình hoạt động cụ thể.
Nếu website chỉ giới thiệu thông tin, không cho phép đặt hàng và không đóng vai trò nền tảng trung gian hoặc mạng xã hội có hoạt động thương mại điện tử thì có thể không thuộc nhóm nền tảng kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến tại Điều 31 Nghị định số 248/2026/NĐ-CP.
Tuy nhiên, nếu website cho phép nhiều người bán quảng bá hàng hóa, kết nối người mua với người bán hoặc tổ chức hoạt động thương mại điện tử theo mô hình khác thì vẫn cần rà soát nghĩa vụ đăng ký tương ứng.
Nền tảng đạt 100.000 giao dịch phải đăng ký trong bao lâu?
Chủ quản nền tảng phải thực hiện đăng ký trong vòng 60 ngày kể từ thời điểm đạt ngưỡng 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam.
Nền tảng kinh doanh trực tiếp nước ngoài thực hiện thông báo hay đăng ký?
Theo Nghị định số 248/2026/NĐ-CP, nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến và có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam thực hiện thủ tục đăng ký với Bộ Công Thương.
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý để tránh nhầm với thủ tục thông báo áp dụng cho một số nền tảng kinh doanh trực tiếp trong nước.
Kết luận
Quy định mới về thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài cho thấy Việt Nam đang tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trực tuyến xuyên biên giới nhưng vẫn hướng tới tạo môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch và an toàn.
Điều quan trọng nhất đối với chủ quản nền tảng nước ngoài là xác định đúng ba vấn đề:
- Nền tảng có được coi là có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam hay không;
- Nền tảng thuộc mô hình kinh doanh trực tiếp, trung gian, mạng xã hội thương mại điện tử hay nền tảng tích hợp;
- Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục đăng ký, chỉ định đại diện hay đáp ứng thêm những điều kiện quản lý và vận hành nào.
Trên đây là 10 điều nền tảng thương mại điện tử nước ngoài cần biết khi hoạt động tại Việt Nam. Do mỗi nền tảng có mô hình, chức năng và quy mô giao dịch khác nhau, doanh nghiệp nên rà soát cụ thể trước khi triển khai hoạt động hoặc bổ sung giao diện tiếng Việt, tên miền “.vn” và chức năng đặt hàng trực tuyến.

