Nếu trước đây bạn thường nghe những thuật ngữ như website thương mại điện tử bán hàng, website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, thì từ ngày 01/7/2026, khi Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực, một thuật ngữ mới xuất hiện rất thường xuyên là Nền tảng thương mại điện tử.
- Vậy nền tảng thương mại điện tử là gì?
- Có phải từ năm 2026, website thương mại điện tử chỉ đơn giản được đổi tên thành nền tảng thương mại điện tử?
- Website và nền tảng thương mại điện tử có phải là một không?
Và nếu bạn đang sở hữu một website bán hàng, sàn thương mại điện tử hoặc ứng dụng bán hàng thì việc thay đổi thuật ngữ này ảnh hưởng thế nào đến việc thông báo, đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước?
Trong bài viết này, mình sẽ giải thích theo cách đơn giản nhất, nhưng bám sát các khái niệm mới tại Luật Thương mại điện tử năm 2025.

1. Nền tảng thương mại điện tử là gì?
Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 quy định Nền tảng thương mại điện tử là nền tảng số được thiết lập để thực hiện hoạt động thương mại điện tử...
Luật đồng thời xác định 04 loại nền tảng thương mại điện tử, gồm:
- Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp;
- Nền tảng thương mại điện tử trung gian;
- Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử;
- Nền tảng thương mại điện tử tích hợp.
Đây là một thay đổi rất đáng chú ý. Bởi trước đây khi nhắc đến hoạt động thương mại điện tử, doanh nghiệp rất quen với cách gọi:
- Website thương mại điện tử bán hàng;
- Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;
- Ứng dụng thương mại điện tử bán hàng;
- Ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.
Từ ngày 01/7/2026, Luật Thương mại điện tử xây dựng khái niệm rộng hơn là nền tảng thương mại điện tử và phân loại nền tảng dựa nhiều hơn vào mô hình, chức năng và cách thức hoạt động. Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
2. Website thương mại điện tử và nền tảng thương mại điện tử có giống nhau không?
Không nên hiểu hai khái niệm này hoàn toàn giống nhau. Đây là điểm quan trọng nhất của bài viết. Có thể hiểu đơn giản Website là một định dạng/cách thức triển khai nền tảng.
Nền tảng thương mại điện tử là khái niệm pháp lý gắn với mô hình và hoạt động thương mại điện tử được thực hiện trên nền tảng số đó.
Ví dụ, Công ty A xây dựng Abc.vn để trực tiếp bán mỹ phẩm của mình. Về mặt hình thức, đây là website. Nhưng khi xem xét theo Luật Thương mại điện tử năm 2025, nếu nền tảng được thiết lập để Công ty A trực tiếp bán hàng hóa thì có thể thuộc loại Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp.
Tương tự, nếu Công ty A còn xây dựng ứng dụng ABC Shopping trên điện thoại để thực hiện cùng hoạt động đó thì ứng dụng cũng là một định dạng triển khai của nền tảng. Thực tế giao diện khai báo hiện nay cũng cho phép xác định nền tảng theo các định dạng chỉ có website, chỉ có ứng dụng hoặc có cả ứng dụng và website.
Vì vậy Nền tảng thương mại điện tử không đồng nghĩa với website. Một nền tảng TMĐT có thể được triển khai dưới dạng website, ứng dụng hoặc cả website và ứng dụng.
3. Tại sao Luật mới lại sử dụng khái niệm nền tảng?
Cách tiếp cận này phù hợp hơn với thực tế thương mại điện tử hiện nay. Trước đây, hoạt động TMĐT thường gắn rất mạnh với website. Nhưng hiện nay, người dùng có thể mua hàng thông qua:
- Website;
- Ứng dụng di động;
- Mạng xã hội;
- Sàn thương mại điện tử;
- Hoặc các nền tảng tích hợp nhiều loại hình hoạt động khác nhau.
Nếu chỉ sử dụng khái niệm website, phạm vi mô tả sẽ khá hẹp. Khái niệm nền tảng thương mại điện tử giúp pháp luật tiếp cận hoạt động TMĐT dựa trên bản chất và chức năng của hệ thống, thay vì chỉ dựa vào việc nó được hiển thị dưới dạng một website hay một ứng dụng.
Đây cũng là lý do Chương III của Luật Thương mại điện tử năm 2025 được xây dựng về Nền tảng thương mại điện tử và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử.
4. Luật mới chia nền tảng thương mại điện tử thành những loại nào?
Đây là phần doanh nghiệp nên đặc biệt quan tâm, bởi việc xác định đúng loại nền tảng sẽ kéo theo những trách nhiệm pháp lý khác nhau.
4.1. Loại 1: Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp
Khoản 3 Điều 3 Luật Thương mại điện tử quy định Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp là nền tảng thương mại điện tử do tổ chức, cá nhân thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.
Ví dụ dễ hiểu: Công ty A sản xuất mỹ phẩm. Công ty A xây dựng website Myphama.vn để bán chính sản phẩm của mình. Đây là mô hình kinh doanh trực tiếp. Hoặc một doanh nghiệp cung cấp phần mềm saas xây dựng website để trực tiếp bán gói sử dụng phần mềm của chính mình. Bản chất vẫn là Chủ quản nền tảng → trực tiếp bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ cho khách hàng.
Nền tảng kinh doanh trực tiếp có phải lúc nào cũng phải thông báo?
Không. Đây là điểm cần chú ý để tránh áp dụng máy móc. Nghị định 248/2026/NĐ-CP quy định thủ tục thông báo đối với Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến. Vì vậy, phải kiểm tra thêm một điều kiện rất quan trọng là có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không?
Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại điện tử quy định chức năng đặt hàng trực tuyến là chức năng của nền tảng TMĐT cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng đó. Ví dụ:
- Website A: Giới thiệu sản phẩm → thông tin doanh nghiệp → địa chỉ → số điện thoại → nút liên hệ. Khách hàng không giao kết hợp đồng trên website.
- Website B: Xem sản phẩm → thêm giỏ hàng → nhập thông tin → đặt hàng → xác nhận đơn hàng.
Hai website đều có thể là nền tảng kinh doanh trực tiếp, nhưng việc xác định nghĩa vụ thông báo còn phải xem xét yếu tố chức năng đặt hàng trực tuyến.
Theo quy trình áp dụng từ 01/7/2026, tên thủ tục hiện nay là thông báo nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến. Đây là một khác biệt rất đáng chú ý so với cách gọi Thông báo website thương mại điện tử bán hàng trước đây.
4.2. Loại 2: Nền tảng thương mại điện tử trung gian
Khoản 4 Điều 3 Luật Thương mại điện tử quy định Nền tảng thương mại điện tử trung gian là nền tảng TMĐT cho phép tổ chức, cá nhân khác đăng ký tài khoản để thực hiện hoạt động giới thiệu, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên chính nền tảng đó.
Điểm mấu chốt nằm ở cụm cho phép tổ chức, cá nhân khác đăng ký tài khoản. Ví dụ:
- Công ty A xây dựng nền tảng.
- Doanh nghiệp B đăng ký tài khoản và bán sản phẩm.
- Cá nhân C đăng ký tài khoản và cung cấp dịch vụ.
- Khách hàng D truy cập nền tảng để tìm kiếm và giao dịch.
Lúc này, Công ty A không chỉ trực tiếp bán hàng hóa của chính mình mà đang tạo ra môi trường cho các chủ thể khác thực hiện hoạt động thương mại điện tử. Đó là đặc điểm quan trọng để phân biệt với nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp.
4.3. Loại 3: Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử
Đây là một khái niệm rất đáng chú ý trong Luật mới. Khoản 5 Điều 3 Luật Thương mại điện tử quy định mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử là mạng xã hội có tích hợp ít nhất một trong các chức năng:
- Liên lạc trực tuyến;
- Đặt hàng trực tuyến;
- Livestream bán hàng;
- Để hỗ trợ giao kết hợp đồng và thực hiện hoạt động thương mại điện tử.
Như vậy, từ năm 2026, khi phân loại một nền tảng có yếu tố mạng xã hội, không nên chỉ nhìn vào việc nó có phải sàn TMĐT truyền thống hay không? mà phải kiểm tra các chức năng thực tế của nền tảng.
4.4. Loại 4: Nền tảng thương mại điện tử tích hợp
Đây là loại hình mới mà nhiều doanh nghiệp còn khá lạ. Khoản 6 Điều 3 Luật quy định Nền tảng thương mại điện tử tích hợp là nền tảng TMĐT cho phép tích hợp các nền tảng thương mại điện tử khác trên chính nền tảng đó.
Có thể hiểu đơn giản là Một nền tảng → tích hợp các nền tảng TMĐT khác trên chính nền tảng đó. Tuy nhiên, Luật cũng loại trừ trường hợp nền tảng chỉ cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử, liên lạc trực tuyến cho chính nền tảng thương mại điện tử tích hợp.
Do đó, không phải cứ website có nhiều chức năng hoặc kết nối API với hệ thống khác thì mặc nhiên trở thành nền tảng thương mại điện tử tích hợp. Cần phân tích đúng mô hình hoạt động thực tế.
5. Bảng phân biệt 4 loại nền tảng thương mại điện tử
Có thể hình dung nhanh như sau:
| Loại nền tảng | Đặc điểm chính | Ví dụ mô hình |
| TMĐT kinh doanh trực tiếp | Chủ quản trực tiếp bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ | Website doanh nghiệp bán sản phẩm của chính mình |
| TMĐT trung gian | Cho tổ chức, cá nhân khác đăng ký tài khoản để giới thiệu, bán hàng/cung ứng dịch vụ | Sàn/marketplace |
| Mạng xã hội hoạt động TMĐT | Mạng xã hội tích hợp chức năng TMĐT theo quy định | Social commerce |
| TMĐT tích hợp | Cho phép tích hợp các nền tảng TMĐT khác trên chính nền tảng | Mô hình tích hợp nhiều nền tảng |
6. Vậy website thương mại điện tử đã biến mất hoàn toàn chưa?
Không nên hiểu như vậy. Trong thực tế, từ website vẫn được sử dụng để mô tả một định dạng của nền tảng. Điều thay đổi quan trọng là cách pháp luật phân loại và quản lý hoạt động TMĐT.
Một ví dụ rất rõ là giao diện thực hiện thủ tục thông báo hiện nay yêu cầu người khai xác định định dạng của nền tảng theo một trong ba trường hợp:
- Chỉ có website;
- Chỉ có ứng dụng;
- Có cả ứng dụng và website.
Như vậy:
- Website vẫn tồn tại.
- Ứng dụng vẫn tồn tại.
- Nhưng cả hai có thể là định dạng của một nền tảng thương mại điện tử.
Đây là cách hiểu tôi cho rằng dễ nhất.
7. Có thể hiểu nền tảng và website bằng một ví dụ đơn giản
Giả sử Công ty ABC kinh doanh thời trang. Công ty có Website là abc.vn và ứng dụng là ABC Shopping. Cả website và app đều cho phép khách hàng xem sản phẩm, đặt hàng và mua hàng trực tiếp từ Công ty ABC.
Nếu chỉ nhìn về mặt công nghệ, chúng ta có 01 website + 01 app. Nhưng khi xem xét theo mô hình TMĐT, Công ty ABC đang vận hành nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp.
Và vì có chức năng đặt hàng trực tuyến, doanh nghiệp cần kiểm tra nghĩa vụ thông báo theo Điều 23 Nghị định 248/2026/NĐ-CP. Quy trình hiện hành cũng cho phép khai báo trường hợp nền tảng có cả website và ứng dụng. Đây chính là lý do không nên đồng nhất Website = nền tảng.
8. Trước và sau ngày 01/7/2026 khác nhau thế nào?
Có thể hiểu sự thay đổi về cách gọi như sau:
| Trước 01/7/2026 | Từ 01/7/2026 |
| Website TMĐT bán hàng | Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp |
| Ứng dụng TMĐT bán hàng | Xem xét theo loại nền tảng TMĐT tương ứng |
| Website cung cấp dịch vụ TMĐT | Phân loại theo mô hình mới, đặc biệt nền tảng TMĐT trung gian |
| Ứng dụng cung cấp dịch vụ TMĐT | Phân loại theo mô hình nền tảng tương ứng |
| Tập trung nhiều vào website/app | Tiếp cận theo nền tảng + mô hình + chức năng |
Tuy nhiên, bảng trên dùng để giúp hình dung sự thay đổi, không nên hiểu rằng từng thuật ngữ cũ có thể chuyển đổi cơ học 1:1 sang một thuật ngữ mới.
Ví dụ, không phải cứ trước đây là website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thì chỉ cần đổi tên thành nền tảng thương mại điện tử trung gian. Phải rà soát lại mô hình thực tế theo định nghĩa của Luật mới.
9. Tại sao việc hiểu đúng khái niệm nền tảng TMĐT lại quan trọng?
Bởi việc phân loại không chỉ là vấn đề thuật ngữ. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến:
- Nghĩa vụ của chủ quản;
- Nội dung phải công khai;
- Thủ tục hành chính phải thực hiện;
- Hồ sơ phải chuẩn bị;
- Nghĩa vụ báo cáo;
- Và các trách nhiệm khác trong quá trình vận hành.
Ví dụ:
- Nền tảng kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến → thực hiện thủ tục thông báo theo quy định.
- Nền tảng TMĐT trung gian → thuộc nhóm phải đăng ký khi đáp ứng trường hợp theo quy định.
- Mạng xã hội hoạt động TMĐT → phải xem xét điều kiện, trách nhiệm và thủ tụcđăng ký tương ứng.
- Nền tảng TMĐT tích hợp → cũng là một nhóm đăng ký theo cơ chế mới.
Vì vậy, phân loại sai ngay từ đầu có thể dẫn đến việc chuẩn bị sai hoàn toàn bộ hồ sơ.
10. Một website có thể thay đổi loại hình nền tảng không?
Có thể.
Đây là trường hợp mình thấy khá thường xuyên trong thực tế. Ban đầu doanh nghiệp xây dựng website để bán sản phẩm của chính doanh nghiệp. Đây có thể là nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp. Sau một thời gian, doanh nghiệp bổ sung cho các nhà bán hàng khác đăng ký tài khoản → tự đăng sản phẩm → bán hàng trên website. Khi đó, mô hình hoạt động đã thay đổi đáng kể và cần rà soát lại việc phân loại nền tảng.
Tương tự, một nền tảng ban đầu chỉ có chức năng đơn giản nhưng sau đó bổ sung:
- Livestream;
- Chat giữa người mua và người bán;
- Nhiều người bán;
- Tích hợp nền tảng khác;
- Hoặc các chức năng mới,
Thì doanh nghiệp không nên mặc định rằng kết quả phân loại trước đây vẫn phù hợp.
Đặc biệt, Nghị định 248/2026/NĐ-CP đã quy định các trường hợp phải thực hiện sửa đổi, bổ sung thông báo khi có thay đổi đối với một số thông tin của nền tảng kinh doanh trực tiếp.
11. Cách tự xác định nền tảng của bạn thuộc loại nào
Bạn có thể bắt đầu bằng 4 câu hỏi rất đơn giản.
Câu 1: Ai đang bán hàng/cung ứng dịch vụ?
Nếu chỉ có chính bạn → xem xét kinh doanh trực tiếp. Nếu cho tổ chức/cá nhân khác đăng ký tài khoản để bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ → kiểm tra nền tảng trung gian.
Câu 2: Đây có phải mạng xã hội không?
Nếu có và tích hợp các chức năng TMĐT được Luật quy định → kiểm tra mạng xã hội hoạt động TMĐT.
Câu 3: Nền tảng có cho phép tích hợp các nền tảng TMĐT khác trên chính nó không?
Nếu có → cần kiểm tra khái niệm nền tảng TMĐT tích hợp.
Câu 4: Nền tảng được triển khai bằng gì?
Website? Ứng dụng? Hay cả website và ứng dụng?
Câu cuối cùng giúp xác định định dạng triển khai, chứ không thay thế việc xác định loại hình nền tảng.
12. Một công thức rất dễ nhớ từ năm 2026
Nếu chỉ cần nhớ một điều sau khi đọc bài này, mình nghĩ có thể nhớ theo công thức:
- Nền tảng tmđt = mô hình hoạt động
- Website/app = định dạng triển khai
Tất nhiên đây là cách diễn giải đơn giản để người đọc dễ hình dung, không phải định nghĩa pháp lý nguyên văn. Khi thực hiện hồ sơ thực tế, vẫn phải quay lại Điều 3 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 để xác định đúng loại hình.
Kết luận
Từ ngày 01/7/2026, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 sử dụng khái niệm nền tảng thương mại điện tử và chia thành 04 loại:
- Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp;
- Nền tảng TMĐT trung gian;
- Mạng xã hội hoạt động TMĐT;
- Nền tảng TMĐT tích hợp.
Vì vậy, không nên hiểu đơn giản rằng Website thương mại điện tử được đổi tên thành nền tảng thương mại điện tử. Cách hiểu chính xác hơn là pháp luật mới đã xây dựng một khái niệm rộng hơn, tập trung vào bản chất, mô hình và chức năng của hoạt động TMĐT.
Website hoặc ứng dụng có thể là định dạng mà nền tảng được triển khai trên đó. Thực tế hệ thống khai báo hiện nay cũng phân biệt nền tảng chỉ có website, chỉ có ứng dụng hoặc có cả hai. Do đó, nếu bạn đang sở hữu một website hoặc ứng dụng có hoạt động thương mại điện tử, câu hỏi đầu tiên từ năm 2026 không nên chỉ là dây có phải website thương mại điện tử không? mà nên hỏi Nền tảng của mình thuộc loại hình thương mại điện tử nào?
Sau khi xác định đúng loại nền tảng, chúng ta mới xác định tiếp có phải thông báo, đăng ký hay thực hiện các nghĩa vụ nào khác.
Trên đây là những chia sẻ hiểu biết của mình về các khái niệm nền tảng thương mại điện tử theo Luật Thương mại điện tử năm 2025. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc gì thì liên hệ mình nhé. Mình tư vấn, hỗ trợ các bạn.

