Website chỉ có nút Zalo/Messenger có phải thông báo với Bộ Công Thương không?

Website chỉ có nút Zalo/Messenger có phải thông báo với Bộ Công Thương không?

Một tình huống tôi gặp khá thường xuyên khi rà soát website cho doanh nghiệp là website không có giỏ hàng, không có nút “Mua ngay”, không có trang checkout, nhưng tại mỗi sản phẩm lại có nút:

Liên hệ Zalo – Chat Messenger – Nhắn tin để đặt hàng – Liên hệ tư vấn

Khi đó, câu hỏi thường được đặt ra là: Website như vậy có phải thông báo với Bộ Công Thương không?

Theo quy định áp dụng từ ngày 01/7/2026, câu hỏi này cần được xem xét theo một cách khác so với trước đây. Điểm mấu chốt không phải website có giới thiệu hay bán hàng hay không, mà cần xác định website có phải nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không.

Và ở đây có một điểm rất quan trọng: Có nút Zalo/Messenger không đồng nghĩa với có chức năng đặt hàng trực tuyến.

Website chỉ có nút Zalo/Messenger có phải thông báo với Bộ Công Thương không?
Website chỉ có nút Zalo/Messenger có phải thông báo với Bộ Công Thương không?

1. Trước tiên cần hiểu đúng chức năng đặt hàng trực tuyến

Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 định nghĩa: Chức năng đặt hàng trực tuyến là chức năng của nền tảng thương mại điện tử cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng đó.

Đây chính là căn cứ quan trọng nhất để xử lý trường hợp website chỉ đặt nút Zalo hoặc Messenger. Cần chú ý cụm từ “trên nền tảng đó”.

Tức là không phải cứ khách hàng nhìn thấy sản phẩm trên website rồi, sau đó liên hệ với doanh nghiệp bằng một phương thức điện tử nào đó thì website mặc nhiên có chức năng đặt hàng trực tuyến. Phải xem việc giao kết hợp đồng điện tử có được thực hiện trên chính nền tảng đó hay không.

2. Website chỉ dẫn khách sang Zalo có phải là đặt hàng trực tuyến?

Hãy lấy một ví dụ rất phổ biến. Website Abc.vn giới thiệu:

  • Sản phẩm A – Giá 2.000.000 đồng
  • Bên dưới có: Liên hệ Zalo

Khách hàng bấm vào nút này và được chuyển sang ứng dụng Zalo. Sau đó hai bên trao đổi về sản phẩm, số lượng, giá, địa chỉ nhận hàng và phương thức thanh toán trên Zalo.

Trong trường hợp này, việc giao kết hợp đồng là trên nền tảng zalo, chứ không phải trên nền tảng web abc.vn. Vì vậy, website abc.vn không được coi là có chức năng đặt hàng trực tuyến.

3. Messenger cũng tương tự

Ví dụ website có nút: Chat với chúng tôi qua Messenger

Khi bấm vào, khách hàng được chuyển sang Messenger để:

  • Hỏi giá;
  • Yêu cầu tư vấn;
  • Kiểm tra hàng còn hay hết;
  • Trao đổi nhu cầu;
  • Cung cấp số điện thoại;
  • Trao đổi về việc mua hàng.

Chỉ riêng việc có nút như vậy chưa đủ để kết luận website có chức năng đặt hàng trực tuyến. Bởi vì, giao kết hợp đồng lại nằm ở nền tảng facebook. Về bản chất, đây có thể chỉ là một kênh liên hệ bên ngoài website. Nếu có đặt hàng thì giao kết hợp đồng lại ở ngoài nền tảng website.

Luật Thương mại điện tử cũng phân biệt giữa chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng liên lạc trực tuyến. Khoản 9 Điều 3 định nghĩa chức năng liên lạc trực tuyến là chức năng cho phép các bên trao đổi thông tin thông qua tin nhắn văn bản, hình ảnh, video, tin nhắn thoại, cuộc gọi thoại hoặc video.

4. Vậy website chỉ có Zalo/Messenger có phải thông báo không?

Nếu website do doanh nghiệp thiết lập để giới thiệu và trực tiếp bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ của chính mình, nhưng website:

  • Không có giỏ hàng;
  • Không có quy trình đặt hàng;
  • Không có checkout;
  • Không có chức năng cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên website;
  • Nút Zalo/Messenger chỉ đưa khách sang nền tảng khác để liên hệ, tư vấn hoặc tiếp tục trao đổi;
  • Thì không nên chỉ dựa vào việc có nút Zalo/Messenger để kết luận website thuộc diện phải thực hiện thủ tục Thông báo.

Điều 14 Luật Thương mại điện tử 2025 quy định nghĩa vụ thông báo đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến.

Nghị định 248/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến phải được xác nhận thông báo trước khi vận hành nền tảng.

Do đó, khi tư vấn trường hợp này, tôi sẽ không hỏi đơn giản: Website có bán hàng không? Mà sẽ hỏi: Khách hàng có thể thực hiện việc giao kết hợp đồng điện tử ngay trên website hay không? –>Đây mới là câu hỏi cần kiểm tra.

5. Đừng chỉ nhìn xem website có giỏ hàng hay không

Ở chiều ngược lại cũng cần lưu ý. Không thể áp dụng công thức: Không có giỏ hàng = không có chức năng đặt hàng trực tuyến.

Luật không định nghĩa chức năng đặt hàng trực tuyến dựa trên việc website có biểu tượng 🛒 giỏ hàng hay không.

Tiêu chí pháp lý là khả năng: Thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng đó.

Do đó, một website dù không có giao diện giỏ hàng truyền thống nhưng lại xây dựng một chức năng khác cho phép người mua lựa chọn hàng hóa/dịch vụ, cung cấp thông tin cần thiết, xác nhận nội dung giao dịch và thực hiện giao kết ngay trên website thì vẫn cần tiếp tục xem xét đó có phải chức năng đặt hàng trực tuyến hay không.

Nói cách khác: Đừng nhìn tên nút. Hãy nhìn chức năng thực tế phía sau nút.

6. Nút Đặt hàng qua Zalo thì sao?

Đây là trường hợp thú vị hơn. Giả sử thay vì ghi: Liên hệ Zalo. Website lại ghi: Đặt hàng qua Zalo

Liệu chỉ đổi hai chữ “liên hệ” thành “đặt hàng” thì website trở thành website có chức năng đặt hàng trực tuyến?

Theo tôi, không thể kết luận chỉ dựa vào tên nút. Cần bấm vào và xem chức năng thực tế.

Nếu nút chỉ mở Zalo của doanh nghiệp và toàn bộ quá trình trao đổi, xác nhận giao dịch sau đó diễn ra bên ngoài website thì bản chất kỹ thuật của website không vì dòng chữ Đặt hàng qua Zalo mà tự động thay đổi.

Ngược lại, nếu website có thêm các cơ chế khác cho phép việc giao kết được thực hiện trên chính website thì phải đánh giá toàn bộ quy trình, chứ không thể lấy nút Zalo làm căn cứ duy nhất.

7. 4 trường hợp rất dễ nhầm

Có thể hình dung như sau:

Tình huốngNhận định ban đầu
Website giới thiệu sản phẩm → nút Zalo mở ứng dụng Zalo để tư vấnChưa đủ căn cứ xác định có chức năng đặt hàng trực tuyến
Website giới thiệu dịch vụ → Messenger để khách hỏi thông tinChưa đủ căn cứ xác định có chức năng đặt hàng trực tuyến
Website có nút gọi điện/hotlineKhông phải chỉ vì nút gọi điện mà thành chức năng đặt hàng trực tuyến
Website cho người mua thực hiện quy trình giao kết hợp đồng điện tử ngay trên websiteCần xác định là nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến

Điểm phân biệt không nằm ở Zalo, Messenger, hotline hay tên gọi của nút, mà nằm ở cách thức giao dịch thực tế được thiết kế trên nền tảng.

8. Ví dụ thực tế để dễ hình dung

Trường hợp 1: Website catalogue

Website của một công ty nội thất đăng:

  • Bàn làm việc A – 4.500.000 đồng
  • Khách có thể xem ảnh, thông số, giá.
  • Bên dưới: [Tư vấn qua Zalo]

Bấm vào sẽ mở Zalo. Website không cho đặt hàng hay giao kết hợp đồng trên website. → Nút Zalo tự nó không làm phát sinh chức năng đặt hàng trực tuyến.

Trường hợp 2: Website dịch vụ

  • Một website thiết kế nội thất giới thiệu các gói dịch vụ.
  • Khách bấm: [Nhận tư vấn]

Sau đó chuyển sang Messenger để trao đổi nhu cầu và doanh nghiệp gửi báo giá sau. → Cũng không nên chỉ vì có Messenger mà kết luận website có chức năng đặt hàng trực tuyến.

Trường hợp 3: Website có quy trình đặt hàng hoàn chỉnh

Khách chọn sản phẩm → số lượng → địa chỉ → phương thức giao hàng → phương thức thanh toán → kiểm tra thông tin → xác nhận đặt hàng ngay trên website → Đây là trường hợp rất khác.

Luật còn yêu cầu nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến phải hiển thị các nội dung liên quan đến giao kết và có cơ chế để người mua rà soát, sửa đổi một số thông tin trước khi đặt hàng.

Đây rõ ràng không còn là một website chỉ giới thiệu sản phẩm rồi dẫn khách sang Zalo.

9. Có nên cố tình bỏ giỏ hàng và chuyển hết sang Zalo để khỏi thông báo?

Tôi không khuyến nghị doanh nghiệp thiết kế website theo hướng né nghĩa vụ pháp lý. Website nên được xây dựng theo nhu cầu kinh doanh thực tế.

Nếu doanh nghiệp thực sự chỉ cần website giới thiệu sản phẩm/dịch vụ và khách hàng liên hệ riêng để được tư vấn, báo giá thì có thể thiết kế đúng theo mô hình đó.

Nhưng nếu hoạt động thực tế cần một quy trình đặt hàng trực tuyến hoàn chỉnh, việc cố tình bỏ một vài nút hoặc đổi tên Mua ngay thành Liên hệ không phải là cách tiếp cận phù hợp.

Khi rà soát, cần xem bản chất của chức năng và toàn bộ luồng giao dịch, không chỉ nhìn giao diện bên ngoài.

10. Một lưu ý quan trọng: đừng áp dụng máy móc hướng dẫn cũ

Đây cũng là lý do tôi muốn viết riêng bài này. Từ ngày 01/7/2026, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 có hiệu lực và sử dụng khái niệm pháp lý cụ thể “chức năng đặt hàng trực tuyến”. Luật xác định đây là chức năng cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng.

Nghị định 248/2026/NĐ-CP cũng gắn thủ tục Thông báo với nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến.

Vì vậy, khi đọc các bài hướng dẫn cũ trên Internet, cần kiểm tra xem nội dung đó được viết theo quy định trước hay sau ngày 01/7/2026.

11. Cách tôi thường rà soát một website có Zalo/Messenger

Nếu doanh nghiệp hỏi: Website em chỉ có Zalo, có phải thông báo không? Tôi sẽ chưa trả lời ngay Có hoặc Không chỉ từ thông tin đó.

Tôi thường kiểm tra:

Website bán hàng hóa/dịch vụ của ai? → Khách thực hiện những thao tác nào trên website? → Nút Zalo/Messenger thực hiện chức năng gì? → Khách được chuyển sang đâu? → Nội dung nào được xác nhận trên website? → Việc giao kết hợp đồng điện tử có được thực hiện trên chính website hay không?

Sau khi xem toàn bộ luồng này mới có thể phân loại chính xác hơn.

12. Kết luận

Nếu website chỉ giới thiệu hàng hóa/dịch vụ và đặt nút Zalo hoặc Messenger để khách chuyển sang nền tảng khác liên hệ, tư vấn, trao đổi, thì:

Không thể chỉ căn cứ vào nút Zalo/Messenger để xác định website có chức năng đặt hàng trực tuyến và thuộc diện phải Thông báo.

Tiêu chí quan trọng theo Luật Thương mại điện tử 2025 là website có “chức năng đặt hàng trực tuyến”, tức chức năng cho phép thực hiện giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng đó.

Ngược lại, nếu website có các chức năng cho phép khách hàng thực hiện quá trình giao kết hợp đồng điện tử ngay trên website, doanh nghiệp cần xem xét nghĩa vụ Thông báo nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến theo quy định hiện hành.

Trên đây là chia sẻ hiểu biết của mình về việc các Website chỉ có nút Zalo/Messenger có phải thông báo với Bộ Công Thương không? Hi vọng, phần nào giúp các bạn tự mình có thể xác định website có thuộc đối tượng phải thông báo hay không. Trong quá trình thực hiện, nếu gặp vướng hoặc không chắc chắn vấn đề gì đó thì liên hệ mình nhé. Cám ơn các bạn.

Rate this post

Để lại một bình luận